TỨ PHẦN LUẬT
NI-TÁT-KỲ BA-DẬT-ĐỀ
ĐIỀU 30
A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Bà-già-bà ở tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, Lê-xa Tỳ-xá-ly có nhơn duyên cần lấy tài vật từ một cư sĩ nọ. Có một tỳ-kheo-ni tên là Ca-la thường tới lui nhà này, xem như một đàn-việt. Lê-xa nói với tỳ-kheo-ni Ca-la:
«A-di, cô có thể vì tôi thu xếp chuyện tài vật này được không?»
Cô ni trả lời:
«Được.»
Sau khi thu xếp tài vật xong, nhận được tài vật rồi, Lê-xa vui vẻ nói:
«A-di, cô cần thứ gì?»
Cô ni nói:
«Thôi, như thế là cúng dường tôi rồi!»
Lê-xa lại nói:
«Cần gì, sư cô cứ nói.»
Cô ni nói:
«Thôi, giả sử tôi có cần đi nữa, ông cũng không thể cho.»
Lê-xa lại nói:
«Tôi sẽ cho chứ không phải không cho. Cô cứ nói.»
Cô ni liền chỉ nơi chiếc y nhẹ (mỏng) trị giá năm trăm trương điệp nói:
«Tôi cần tấm y (vải) như vậy.»
Cư sĩ đều cơ hiềm, nói:
«Tỳ-kheo-ni này thọ nhận không biết nhàm chán,. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Sao lại đòi y mỏng với giá năm trăm trương điệp? Dù đàn-việt có cúng cũng phải biết đủ chứ!»
Lê-xa đem chiếc y trao cho cô ni và nói như vầy:
«Vừa rồi, nếu tôi tự thu xếp công việc thì đâu có mất chiếc y này!»
Bấy giờ, lại có tỳ-kheo-ni Bạt-đà Ca-tỳ-la cũng đến nhà bà con, an tọa nơi chỗ ngồi. Các cư sĩ hỏi:
«A-di cần thứ gì?»
Cô ni nói:
«Thôi, như thế cũng là cúng dường cho tôi rồi.»
Người cư sĩ lại nói:
«Cần thứ gì xin cứ nói.»
Cô ni nói:
«Thôi, nói làm gì. Giả sử tôi có cần gì đi nữa, thì ông cũng không thể cho.»
Cư sĩ nói:
«Tôi sẽ cho chứ không phải không cho. Nhưng cứ nói muốn cần cái gì.»
Cô ni liền chỉ nơi chiếc y mỏng, trị giá năm trăm trương điệp và nói:
«Tôi cần chiếc y này.»
Cư sĩ kia cơ hiềm nói:
«Tỳ-kheo-ni này thọ nhận không biết nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp? Sao lại đòi y mỏng với giá năm trăm trương điệp? Dù đàn-việt có cúng cũng phải biết đủ chứ!»
Cư sĩ đem chiếc y trao và nói rằng:
«Tỳ-kheo-ni này dùng chiếc y quý giá này để làm gì?»
Bấy giờ, có các tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách hai tỳ-kheo-ni Ca-la và Bạt-đà Ca-tỳ-la rằng: ‹Sao các cô lại đến cư sĩ đòi chiếc y mỏng trị giá năm trăm trương điệp?›
Bấy giờ các tỳ-kheo-ni đến bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo-ni Ca-la và Bạt-đà Ca-tỳ-la rằng:
«Việc các cô làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao hai cô lại đến cư sĩ đòi chiếc y mỏng trị giá năm trăm trương điệp?»
Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
«Hai tỳ-kheo-ni Ca-la và Bạt-đà Ca-tỳ-la này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa cho đến câu chánh pháp cửu trụ.»
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, muốn xin y nhẹ (mỏng), giá tối đa là hai trương điệp rưỡi; nếu quá, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trên.
Y nhẹ (mỏng): y chống nóng.
Y: có mười loại như trên.
Nếu tỳ-kheo-ni xin y mỏng, nhiều nhất là mười điều. Nếu tỳ-kheo-ni xin y mỏng quá 2,5 trương điệp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, như trên. Xả rồi phải sám hối cũng như trên.
Tăng phải trả y xả này lại cho vị kia bằng pháp bạch nhị yết-ma, như trước. Nếu Tăng không trả lại, thọ làm năm y, … cho đến làm phi y, hay dùng mặc mãi, tất cả đều phạm đột-kiết-la, như trên.
Tỳ-kheo, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đột-kiết-la, như vậy gọi là phạm.
Sự không phạm: Xin y mỏng với mức 2,5 trương điệp, hoặc dưới 2,5 trương điệp; hoặc đến người xuất gia xin; hoặc mình vì người xin, người vì mình xin, hay không xin mà được; thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.