TRƯỞNG LÃO KỆ

16 NHÓM HAI MƯƠI

257. Pārāsariya

“Ở Mahāvana (Đại Lâm) được nở rộ hoa, vị Sa-môn đã ngồi xuống, (có tâm) được tập trung, được tách ly, chứng thiền, đã khởi ý nghĩ rằng:

‘Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân, đang còn hiện tiền, uy nghi của các vị tỳ khưu đã là cách khác, giờ đây được thấy cách khác.

Việc bảo vệ khỏi gió lạnh, việc che đậy chỗ kín, các vị đã thọ dụng theo nhu cầu vừa đủ, tự hoan hỷ (tri túc) về bất cứ vật nào (đã thọ nhận).

Dầu là hảo hạng hay thô xấu, dầu là ít hoặc nhiều, các vị đã thọ dụng vì mục đích duy trì mạng sống, không bị tham đắm, không bị say đắm.

Các vị đã không năng nổ thái quá về các vật dụng cho đời sống, về thuốc men khi có bệnh, giống như các vị ấy (đã năng nổ) cho việc cạn kiệt các lậu hoặc.

Trong khi đeo đuổi việc ẩn cư, với sự chuyên chú về việc ấy, các vị đã sống ở khu rừng, ở các gốc cây, ở những khe núi, và ở các hang động.

(Các vị) khiêm tốn, tín tâm, dễ nuôi, mềm mỏng, tâm ý không cương ngạnh, không lú lẫn, không lắm lời, thiên về sự suy nghĩ đến điều lợi ích (cho mình và cho người).

Do đó, cách đi, cách ăn, cách xử sự đã tạo ra niềm tin. Uy nghi cử chỉ đã là tương tự như luồng nước dầu trơn tru.

Giờ đây, các vị trưởng lão có tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có thiền chứng vĩ đại, có lợi ích lớn lao ấy đã tịch diệt, giờ đây các vị như thế ấy là ít ỏi.

Do sự cạn kiệt hoàn toàn của các thiện pháp và trí tuệ, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, được hội đủ mọi biểu hiện cao quý, bị hủy hoại.

Đây là giai đoạn của các pháp ác và các ô nhiễm, nhưng các vị nào được tự tại trong việc ẩn cư vẫn thành tựu phần còn lại của Chánh Pháp.

Các ô nhiễm ấy, được tăng trưởng, xâm nhập ở nhiều người; tôi nghĩ rằng chúng đùa giỡn với những kẻ ngu si, tựa như các quỷ sứ đùa giỡn với những kẻ bị điên cuồng.

Bị chế ngự bởi các ô nhiễm, những kẻ ấy chạy theo đối tượng này đối tượng nọ ở các nền tảng tạo ra sự ô nhiễm, tựa như trong cuộc chiến đấu của bản thân (với Ma Vương) đã được công bố.

Sau khi hoàn toàn từ bỏ Chánh Pháp, bọn họ xung đột lẫn nhau. Trong khi theo đuổi các tà kiến, bọn họ nghĩ rằng: ‘Điều này là tốt hơn.’

Sau khi lìa bỏ tài sản, con trai, và vợ, bọn họ đã ra đi. Vì nguyên nhân một muỗng đồ ăn, bọn họ thực hành các việc không đáng làm.

Sau khi thọ thực đầy bụng, họ ngủ với tư thế nằm ngửa. Lúc thức dậy, họ khơi lên các cuộc nói chuyện, là các cuộc nói chuyện đã bị bậc Đạo Sư chê trách.

Họ tôn sùng và học tập tất cả cảc nghề nghiệp thủ công, không an tịnh nội tâm; ‘mục đích của đời sống Sa-môn’ là không có liên quan.

Họ cho các cư sĩ đất sét, dầu ăn, bột phấn, nước uống, chỗ ngồi, và thức ăn, trong khi mong mỏi (được cho lại) nhiều hơn.

(Họ cho) tăm xỉa răng, trái cây kapittha, bông hoa, các loại vật thực cứng, các đồ ăn khất thực đặc biệt, các trái xoài, và các trái cây āmalaka.

Về các loại thuốc men thì họ giống như những thầy thuốc, về các việc lớn nhỏ thì giống như các cư sĩ, về những đồ trang sức thì tựa như các cô gái điếm, về quyền uy thì giống như các vị Sát-đế-lỵ.

Lường gạt, lừa dối, làm chứng sai trái, buông lung, họ thọ hưởng vật chất bằng nhiều cách thức sắp đặt.

gāthāyo dvesatā honti pañcatālīsa uttarin ”ti.

Họ thiết lập đồ chúng vì nghề nghiệp không vì Giáo Pháp; họ thuyết giảng Giáo Pháp cho những người khác vì lợi lộc không vì mục đích.

Những kẻ bên ngoài hội chúng cãi cọ về lợi lộc của hội chúng; họ là những kẻ vô liêm sỉ, trong khi đang sống nhờ vào lợi lộc của người khác, lại không biết hổ thẹn.

Không được gắn bó (với các pháp Sa-môn) như thế ấy, một số cạo đầu, trùm y hai lớp; bị say đắm bởi lợi lộc và sự tôn vinh, họ mong muốn chỉ mỗi sự cung kính.

Khi đã phát khởi các sự việc đa dạng như vậy, giờ đây không phải là việc dễ dàng như trước để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, hoặc để duy trì pháp đã được chứng đắc.

Giống như người không mang giày bước đi ở khu vực có gai nhọn, tương tự như vậy, bậc hiền trí nên thiết lập niệm rồi mới nên đi lại ở trong làng.

Người nhớ đến các hành giả ở thời quá khứ, trong khi tưởng nhớ đến phận sự của các vị ấy, mặc dầu là thời điểm sau cùng, cũng vẫn có thể chạm đến vị thế Bất Tử.

Sau khi nói điều này ở khu rừng cây sālā, vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập, vị Bà-la-môn, bậc ẩn sĩ, với việc tái sanh lần nữa đã được cạn kiệt, đã viên tịch Niết Bàn.”

Đại đức trưởng lão Pārāsariya đã nói những lời kệ như thế.

Kệ ngôn của trưởng lão Pārāsariya.

TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Adhimutta, vị Pārāsariya, vị Telakāni, vị Raṭṭhapāla, vị Māluṅkya, vị Sela, vị Bhaddiya, vị Aṅgulimāla, vị có Thiên nhãn (Anuruddha), vị Pārāsariya, mười vị này đã thuật lại ở nhóm hai mươi. Có hai trăm và thêm vào bốn mươi lăm câu kệ.”

Nhóm Hai Mươi được chấm dứt.