KINH TẠP A-HÀM

KINH 130. CẦU ĐẠI SƯ (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Muốn đoạn trừ năm thọ ấm, thì phải cầu Đại sư. Những gì là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Muốn đoạn trừ năm thọ ấm này, thì phải cầu Đại sư.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Cũng như kinh “Đương đoạn”, các kinh tiếp theo cũng vậy, có tên như sau:

  • Đương thổ (hãy nhả ra);
  • Đương tức (hãy đình chỉ);
  • Đương xả (hãy xả bỏ).

Cũng như kinh “Cầu Đại sư”, các kinh sau đây có nội dung tương đồng (có năm mươi chín kinh):

  • Cầu Thắng sư (bậc thầy cao cả),
  • Thuận thứ sư (bậc thầy thuận theo thứ lớp),
  • Giáo giới giả (người răn dạy),
  • Thắng giáo giới giả (người răn dạy hơn nhất),
  • Thuận thứ giáo giới giả (người răn dạy thuận theo thứ lớp),
  • Thông giả (người thông suốt),
  • Quảng thông giả (người thông suốt rộng rãi),
  • Viên thông giả (người thông suốt tròn đầy),
  • Đạo giả (người dẫn đường),
  • Quảng đạo giả (người dẫn đường rộng rãi),
  • Cứu cánh đạo giả (người dẫn đường rốt ráo),
  • Thuyết giả (người thuyết giảng),
  • Quảng thuyết giả (người thuyết giảng rộng rãi),
  • Thuận thứ thuyết giả (người thuyết giảng theo thứ lớp),
  • Chánh giả (người chân chánh),
  • Bạn giả (người đồng hành),
  • Chân tri thức giả (bằng hữu chân thật),
  • Thân giả (người thân cận),
  • Mẫn giả (người thương xót),
  • Bi giả (người từ bi),
  • Sùng nghĩa giả (người sùng nghĩa),
  • An ủy giả (người an ủi),
  • Sùng lạc giả (người sùng lạc),
  • Sùng xúc giả (người sùng xúc),
  • Sùng an ủy giả (người sùng sự an ủi),
  • Dục giả (người muốn),
  • Tinh tấn giả (người tinh tấn),
  • Phương tiện giả (người phương tiện),
  • Cần giả (người chuyên cần),
  • Dũng mãnh giả (người dõng mãnh),
  • Cố giả (người kiên cố),
  • Cường giả (người mạnh mẽ),
  • Kham năng giả (người có khả năng),
  • Chuyên giả (người tinh chuyên),
  • Tâm bất thoái giả (người tâm không thoái lui),
  • Kiên chấp trì (người giữ gìn chắc chắn),
  • Thường tập giả (người thường tu tập),
  • Bất phóng dật giả (người không buông lung),
  • Hòa hiệp giả (người hòa hợp),
  • Tư lương giả (người suy xét),
  • Ức niệm giả (người nhớ nghĩ),
  • Giác giả (người tỉnh giác),
  • Tri giả (người biết),
  • Minh giả (người sáng suốt),
  • Tuệ giả (người trí tuệ),
  • Thọ giả (người lãnh thọ),
  • Tư duy giả (người tư duy),
  • Phạm hạnh giả (người phạm hạnh),
  • Niệm xứ giả (người có niệm xứ),
  • Chánh cần giả (người có chánh cần),
  • Như ý túc (người được như ý túc),
  • Căn giả (người được căn),
  • Lực giả (người được lực),
  • Giác phần giả (người được giác phần),
  • Đạo phần giả (người được đạo phần),
  • Chỉ giả (người được chỉ),
  • Quán giả (người được quán),
  • Niệm thân giả (người được niệm thân),
  • Chánh ức niệm (người được chánh ức niệm).